Thư pháp là gì? Thư đạo là gì?

thư đạo là gì

“Thư pháp là gì?”, một trong những câu hỏi được nhiều người đặt ra khi tìm hiểu bộ môn nghệ thuật này, nay mình xin viết một bài để giúp độc giả hiểu được điều ấy.

1. Thư pháp là gì? Thư đạo là gì?

1.1. Thư pháp là gì?

Hiện nay có nhiều người đưa ra các định nghĩa khác nhau về khái niệm của thư pháp. Trong cuốn sách Thư pháp Hán – Lý thuyết và thực hành của tác giả Phạm Hoàng Quân xuất bản năm 2004 có đề cập:

trụ gỗ thư pháp

Thư pháp là phép viết chữ và thư gia là người am hiểu tinh tường các lối chữ. Theo Từ Nguyên của Trung Quốc thì “Dĩ văn tự kí tải sự vật viết Thư” và “Xưng thiên kỳ sự giả viết Pháp”.

Hai định nghĩa này có nghĩa là “Lấy văn tự để truyền tải nội dung thông tin của sự và vật thì gọi là THƯ” và “Sự đã qua quá trình hoàn thiện thì gọi là PHÁP”.

Qua các định nghĩa nêu trên ta có thể hiểu rằng: “Thư pháp là một loại hình nghệ thuật có phương pháp cụ thể, bắt nguồn từ sự diễn đạt chữ viết. Chữ viết có giá trị nghệ thuật thư pháp được khai thác có thẩm mỹ, người viết gợi được mỹ cảm và người thưởng thức nhận được cái giá trị đó.”[1]

Trong cuốn “Sự kỳ diệu của chữ viết Việt Nam hiện đại”, tác giả Kiều Văn Tiến có đề cập:

Thư pháp là gì theo quan niệm phương Tây

“Calligraphy” là NGHỆ THUẬT VIẾT CHỮ ĐẸP nói chung.

Bằng sự tìm hiểu học hỏi, sự rèn luyện lâu dài, con người có thể cẩn trọng viết chữ như in, tô vẽ trang hoàng chữ viết rất mẫu mực hay ngả nghiêng bay bướm, uốn lượn như “phượng múa rồng bay”. Bằng cây bút tre, phiến gỗ, bút sắt, bút nỉ, bút lông, thậm chí cả ngón tay – “Nhất dương chỉ” với kỹ thuật điêu luyện tinh xảo, công năng phóng bút tuyệt vời, họ có thể tạo nên những tác phẩm, công trình độc đáo có giá trị nghệ thuật được người đời khen tặng, thán phục, tôn vinh.

Từ ý nghĩa đó, suy rộng ra:

“Bất cứ quốc gia, dân tộc nào có chữ viết rồi sẽ có Nghệ thuật viết chữ – Thư pháp”.

Mặc dù trong lịch sử nền văn hóa Việt cũng chịu ảnh hưởng phần nào những nét văn hóa của các nước đế quốc nhưng đất nước ta vẫn luôn giữ được nét đặc sắc riêng trong nội tại nền văn hóa.

Theo các tài liệu nghiên cứu về khoa học chữ viết, người ta đã tìm thấy rất nhiều các loại hình văn bản được thực hiện bởi nhiều chất liệu, kích thước khác nhau do chính bàn tay người Việt tạo ra.

Có các văn bản được khắc trên thân cây, khắc trên bia đá, rồi sau đó là những văn bản đơn lẻ rồi văn bản sắc phong của vua quan ngày xưa.

bia đá thư pháp hán

 

1.2. Thư đạo là gì?

Thư” là chữ, và “Đạo” là con đường, là thứ đúng đắn, chuẩn mực.

Thư đạo” có một hệ thống lý luận và thực hành riêng, với mục đích chính là giáo dục con người, rèn luyện tâm trí.

“Thư đạo” còn mang một ý nghĩa khác đó là “con đường của chữ nghĩa“, hay “Thư pháp“, hoặc có thể hiểu rằng đó chính là cách để viết chữ đẹp.

Như vậy, có thể tổng kết lại rằng:

“Thư đạo là khoa học rèn luyện nhân tâm thông qua các phương pháp viết chữ”

Học viết thư pháp mới chỉ là biểu hiện của việc học thư đạo. Ngoài việc nghiên cứu con chữ, người học thư pháp phải nắm được nội dung và bản chất bên trong.

thư đạo 3 phong cách Mục đích của việc học thư đạo chính là vươn tới sự trưởng thành về tâm hồn. Mình cũng đã từng viết một bài viết mang tựa đề “Con đường của người viết chữ”, mời bạn tham khảo:

1.3. Phân biệt thư đạo với thư pháp

Giống:

Đối tượng nghiên cứu chính yếu là con chữ

Sử dụng các công cụ viết chữ hay văn phòng tứ bảo để thể hiện con chữ.

Khác:

Thư đạo là cấp độ đặc biệt riêng rẽ trong lĩnh vực thư pháp. Không nói về phương pháp viết chữ mà thư đạo là cách người viết chữ tự hoàn thiện bản thân thông qua việc nghiên cứu ý nghĩa, chiêm nghiệm con chữ trong tư tưởng hoặc dùng phương pháp viết chữ để thể hiện ý nghĩa của những ký tự.

Gần đây mình mới viết thêm một bài viết về cách luyện viết chữ thư pháp cho những người mới. Các bạn có thể nhấp vào đường dẫn sau đây để tìm đọc bài viết này. Qua bài viết trên hi vọng đã phần nào giúp bạn hiểu được khái niệm về “Thư đạo”.

1.4. Những vấn đề cần lưu tâm trong thư pháp và thư đạo

Cách viết thư pháp đẹp

Thư pháp được xem là những phương pháp cách thức để viết chữ. Ở Việt Nam hiện nay có hai loại hình thư pháp phổ biến nhất được biết đến, bao gồm thư pháp bút cứng (Calligraphy) và thư pháp bút lông (kế thừa từ thư pháp chữ hán).

Cả hai loại hình thư pháp này đều có điểm chung là sử dụng hệ chữ Latinh (tượng thanh – chữ Quốc ngữ) là tư liệu chính trong quá trình sáng tác nghệ thuật.

Điểm khác nhau chủ yếu bao gồm:

Thư pháp Tây Phương

Sử dụng bút cứng với 01 ngòi duy nhất và một bên sử dụng bút lông (là sự kết hợp của hàng trăm ngàn đầu lông nhỏ tượng trưng cho hàng trăm ngàn những đầu bút). 

Thư pháp Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam

Đề cao bốn yếu tố bao gồm: Thần, Ý, Trí, Khí và có sự vận dụng biến hóa còn thư pháp bút cứng thì lại thiên về sự sáng tạo trong việc tạo ra các font chữ, kết hợp màu sắc và nhịp độ viết để thể hiện ý nghĩa của nội dung cần truyền tải.

Rèn luyện tâm tính, tư duy đúng đắn

Yếu tố này ít được đề cập đối với thư pháp bút cứng (Calligraphy) vì cách dùng bút chỉ tập trung vào việc tạo nét chứ không tập trung vào ý nghĩa của từng nét và việc làm chủ đầu bút. 

Đối với thư pháp Việt sử dụng bút lông hiện nay, việc tạo ra các đường nét bút pháp đôi khi phải mất rất nhiều thời gian mới có thể luyện thành thục được một số nét nhất định.

Các nét có độ khó cao đòi hỏi người viết phải tu tâm, dưỡng tính và để cao lối sống đẹp vì nghệ thuật thư pháp bút lông còn gắn liền với văn hóa xin – cho con chữ trong các dịp lễ tết, các sự kiện quan trọng. 

2. Nguồn gốc của thư pháp

Nguồn gốc của chữ Quốc ngữ

Chữ Quốc Ngữ theo ghi chép từ những tư liệu lịch sử được mọi người biết đến nhiều với nguồn gốc, xuất xứ đầu tiên là từ những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, và sau này là một số những linh mục Dòng Tên như ông Alexandre de Rhodes, 

alexander rhodes

Quá trình “la-tinh hóa” được nhiều người coi là âm mưu đồng hóa dân tộc Việt, sự thật là người phương Tây đã từng có một thời kỳ đô hộ dân tộc ta và nhu cầu muốn hiểu suy nghĩ của những người bị đô hộ để cai trị dễ dàng hơn là một nhu cầu cần thiết.

 

Liệu công lao có thuộc về người phương Tây?

Sau này theo một số tài liệu bản thân tác giả bài viết tìm kiếm được đã cho thấy những nhà truyền giáo này chỉ dùng hệ chữ la tinh cho công việc truyền giáo, mà thời kỳ đó nước ta chuộng Nho giáo, Phật giáo là chính và người dân bài trừ những giá trị của Tây phương.

Mãi về sau này vào những năm 1945 khi chủ tịch Hồ Chí Minh ban bố việc thực hiện diệt giặc dốt, giặc đói bằng hũ gạo cứu tế và các lớp bình dân học vụ, chữ quốc ngữ mới được sử dụng đại trà vì tính dễ học, dễ nhớ của nó.

Theo những tư liệu mới, một người khác có công phát triển đặc biệt quan trọng cho chữ quốc ngữ tại Việt Nam, người đó tên là Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1963).

Đọc thêm: Chữ Quốc Ngữ (Wikipedia)

nguyễn văn vĩnh

Thư pháp Quốc ngữ ra đời

Hiện nay, chữ Quốc ngữ đã trở thành chữ viết chính được sử dụng trong xã hội Việt Nam, được mọi người công nhận và biết đến một cách rộng rãi. Việc giao thoa nét văn hóa giữa Đông và Tây trong nghệ thuật thư pháp tại Việt Nam là một trong những trường hợp rất hiếm gặp trên thế giới.

Bên cạnh đó, ông Đông Hồ (bút hiệu nhà thơ Lâm Tấn Phác) được nhiều người cho rằng là thế hệ đầu tiên đặt nền móng cho việc kết hợp giữa hệ chữ Quốc ngữ với phương pháp sử dụng bút lông, mực tàu để thể hiện các nội dung lên các chất liệu đặc trưng thời đó.

Sự kết hợp hài hòa

Chính sự kế thừa nét chữ hệ La-tinh (phương Tây) và nghệ thuật thư pháp sử dụng bút lông mực xạ của Trung Quốc (một đại diện đã từng có hơn 1000 năm đô hộ dân tộc Việt) đã tạo nên một bộ môn vô cùng mới lạ, hấp dẫn, thu hút thật đông đảo những người yêu thích con chữ và vẻ đẹp của nghệ thuật, của tư duy làm chủ cái “chân, thiện, mỹ”.

đông hồ

Nhận định ban đầu về thư pháp Việt là gì?

Khác với những ưu điểm vốn có của thư pháp chữ Hán như có sự gọn gàng trong một khuôn khổ, các chữ được hình thành trên nền tảng tượng hình thì thư pháp Việt ngày nay vừa có sự kế thừabắt đầu có những đường lối đi riêng đặc trưng để thể hiện cho vẻ đẹp của chữ tượng thanh.

Thư pháp Việt là sự kết hợp hoàn hảo giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Tây và phương Đông, mang trong mình những yếu tố nội tại rất tuyệt vời cả về thiên thời và địa lợi.

Điều cuối cùng chỉ là những con người làm nhiệm vụ kế thừa và phát triển bộ môn này có thể đưa thư pháp Việt tiến xa hơn nữa hay không mà thôi.

Do lịch sử hình thành muộn, những người đi đầu trong việc sử dụng bút lông và mực xạ để thể hiện chữ Việt hiện đại cũng nhiều dẫn tới xuất hiện nhiều trường phái, nhiều cách thể hiện, nhiều cách đánh giá khác nhau.

3. Về ưu, khuyết điểm của thư pháp Việt:

3.1. Ưu điểm:

lợi danh như bóng mây chìm nổi chỉ có tình thương để lại đời Hiện trạng trên tạo ra sự đa dạng trong các trường phái thư pháp Việt, tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta có thêm nhiều tác phẩm độc đáo, sáng tạo, với lối viết phong phú.

Các thể chữ được tạo ra hết sức đa dạng, người viết và người cảm nhận có điều kiện để thỏa sức sáng tạo, đánh giá, khiến cho thư pháp Việt ngày càng được nhiều người biết tới.

Rèn luyện thư pháp giúp con người sống đẹp hơn, những người chủ động tìm tòi, đào sâu duy nghĩ thường sẽ nhận thấy những chân lý tuyệt vời mà cuộc sống đem lại, càng học càng thích thú, càng luyện càng thêm say mê, đem lại nhiều mặt lợi ích tích cực về thể chất và tinh thần, có thể tạo ra nhiều sản phẩm mang đậm nét văn hóa truyền thống để phục vụ nhu cầu giao tiếp, trao tặng,…

3.2. Khuyết điểm:

Do không có sự thống nhất trong các định nghĩa dẫn đến nhiều tranh cãi trong việc thể hiện tác phẩm. Nhiều người lấy định nghĩa về cái đẹp “không nằm trên đôi má của mỹ nhân mà nằm trong con mắt của kẻ si tình” để mặc sức thể hiện, tự cho rằng tác phẩm của mình đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. Một số người sử dụng lối viết an toàn hơn, chỉ cần sử dụng bút lông, mực tàu để viết chữ Việt sao cho thật dễ đọc, dễ hiểu và một số người lại tìm tới những cách thể hiện mới như biến tấu con chữ thành hình ảnh, viết chữ ngược, để tạo ra các thể chữ mới…

Chỉ biết đến hiện tượng mà quên đi bản chất

Có một bộ phận những thế hệ học trò rèn luyện thư pháp thiếu đi những tài liệu chuyên sâu, thiếu đi tư duy đúng đắn mà lao vào con đường lệch lạc, học tập những kiến thức sai lệch, chú trọng vào việc mau chóng viết cho ra được con chữ thay vì rèn luyện nhân tâm.

Họ lựa chọn những phương pháp học tập siêu tốc, chỉ cốt để mau mau có thể viết được chữ rồi tự mình đắc ý với danh xưng “người viết chữ”, “thư pháp gia”… Sự thành công sớm như vậy kéo theo những biến tướng mới trong nghệ thuật, mình thấy đã xuất hiện những ông đồ nhí, hay những người có khả năng “Xem mặt cho chữ”?!?

Tuy nhiên, cũng có một số người viết chữ vẫn luôn âm thầm tìm kiếm và trau dồi kiến thức

Họ tập trung vào lối sống nội tâm và tìm cách thể hiện nó qua ngòi bút của bản thân, nhưng không phải ai cũng biết cách để thể hiện nội tâm của mình thông qua nét bút. Đa phần mới chỉ trông chờ vào sự xuất thần trong phút chốc và quên đi cái căn bản của bút pháp thực tiễn.

Mình không hề có ác cảm với những khuyết điểm đã nói trên vì thư pháp là môn nghệ thuật của mọi người, nó không phân biệt độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo mà chỉ cốt hướng tới một cái đẹp của con chữ.

Đã có rất nhiều câu chuyện trong dân gian kể về những trường hợp “tài không đợi tuổi”

Và chắc chắn khi gặp một người trẻ tuổi cầm bút luyện thư pháp và cho chữ ở các triển lãm, các hội chợ, bản thân mình thấy vui hơn là thấy buồn, vì giai đoạn hiện tại của thư pháp Việt thiết nghĩ vẫn đang nằm ở thời kỳ cần được công nhận, khi đã được mọi người biết tới nhiều, yêu thích nhiều, học tập nhiều thì sớm muộn gì chữ Việt cũng sẽ tự nó hình thành nên những chuẩn mực, cả người xem và người viết sẽ có những nhận định mới mẻ hơn, cao hơn về cái đẹp và nghệ thuật. Đến lúc đó, chúng ta mới có thể đưa ra được kết luận rõ ràng.

4. Vậy nghệ thuật thư pháp là gì?

Như một chiếc cây, thứ cần thiết nhất phải là bộ rễ bám chặt vào đất, bởi thế mới có thể chống chọi được với sự khắc nghiệt từ thị hiếu của người thưởng thức cũng như của thời đại. tâm đức thư pháp thanh phong

Nền tảng của thư pháp tới từ mong muốn truyền tải ý nghĩa, thông điệp của người viết tới người xem thông qua con chữ

Bằng những đường nét khác nhau, cách viết chữ, chỗ nào chậm, chỗ nào nhanh, chỗ nào mạnh,  chỗ nào nhẹ, chỗ nào liên tục, chỗ nào ngắt quãng từ đó mà khiến cho người thưởng lãm thấy được những hàm ý sâu xa mà người viết muốn nhắn gửi nơi chữ nghĩa.

Như vậy, hiểu được CHỮ và biết được PHÁP là những vấn đề trọng tâm mà mỗi người viết chữ phải biết đến và không ngừng trau dồi.

4.1. Hiểu đúng nghĩa “CHỮ là gì?”

Người viết chữ thường chọn lựa nội dung rất kỹ càng, thường là những nội dung mang tính chất giáo dục, những câu nói thâm sâu, ấn tượng, những bài thơ, lời dạy của cổ nhân để người sau đọc vào mà học tập.

Để viết được một chữ Tâm, người ta phải nghiên cứu, tìm tòi xem chữ Tâm ấy ý nghĩa là gì, có những cách diễn đạt nào. Chữ Tâm có thể là Tâm An, có thể là Tâm Thiền, có thể là Tâm của người quân tử, có thể là Tâm Bình, nếu càng mở rộng ra thì chữ Tâm lại càng có nhiều cách biểu đạt.

quạt thư pháp chương pháp phiến diện

Để hiểu hơn về một chữ nào đó trong cuộc sống, nhà thư pháp thường tìm tới hai kho tàng lớn, một là thư phổ, hai là thư luận:

  • Thư phổ

là tập chứa những câu, chữ, đoạn lời thoại và giải nghĩa để người viết tìm kiếm, lựa chọn nội dung viết một cách dễ dàng.

Nó giống như một cuốn từ điển sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ, thờ hay những câu nói có tính ứng dụng vào thực hiện tác phẩm thư pháp.

Một số người viết chữ cũng thường là những nhà thơ, nhà văn, nên những tác phẩm họ viết ra thông thường có nội dung cũng là những bài thơ, châm ngôn mà họ tự sáng tác.

  • Thư luận

là tập chứa những bài viết phân tích về tác phẩm thư pháp nổi tiếng trong đó phân tích về ý nghĩa của con chữ và bút pháp người viết sử dụng, cách thức thể hiện, cảm nhận về đường nét, bố cục, cái xấu, cái đẹp, cái được, cái chưa được trong một tác phẩm.

Do hiện nay thư pháp Việt mới được hình thành nên những tác phẩm nổi tiếng còn ít và số lượng Thư luận còn hiếm, hầu như chưa có ai thực hiện những bài phân tích cho người khác hiểu.

Sau khi họ có được những nền tảng ban đầu để đặt bút rồi, hiểu được cái huyền diệu để thể hiện nội dung cho tác phẩm của mình, họ sẽ tìm cách thể hiện con chữ đó. Lúc này, ta sẽ cần phải có cái PHÁP đủ cao để làm được điều đó.

4.2. Biết “PHÁP là gì?”

Chữ PHÁP trong thư pháp có thể hiểu là phương pháp, cách thức, biện pháp, PHÁP là yếu tố quan trọng để biến ý tưởng của người viết trở thành hiện thực. Ví dụ: Chữ “Sức khỏe” không thể thực hiện với những nét mềm mại, uyển chuyển, chữ “Nhẹ nhàng” không nên thực hiện với những nét nặng nề, mang nhiều cảm giác cứng nhắc.

Vậy thế nào là nét cứng, thế nào là nét mềm? Thế nào là nhanh thế nào là chậm? Mình sẽ chỉ các bạn trong những chương kế tiếp của cuốn sách. Nhưng để rõ về pháp mình sẽ giới thiệu bạn một số những khái niệm cơ bản mà một người viết chữ cần biết.

– Bút pháp:

Nói một cách đơn giản thì bút pháp là phương pháp làm chủ ngọn bút. Tức là khả năng bạn biến những ý tưởng trong đầu thành những nét bút theo ý muốn.

Càng học tập và rèn luyện lâu trong lĩnh vực thư pháp, kỹ thuật bút pháp của bạn lại càng có cơ hội phát triển, thăng hoa. Bút pháp về sau còn là kỹ thuật thể hiện những nét khó, là cơ sở để đánh giá trình độ giữa những người viết chữ với nhau. Vì vậy, luyện tập bút pháp được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi người khi học tập thư pháp.

Mới đây, mình đã viết một bài giới thiệu về khái niệm “Bút pháp và tầm quan trọng của nó trong thư pháp Việt”, bạn muốn xem thì click vào đây nhé.

– Mặc pháp:

Cách pha chế lượng mực và lấy mực vào đầu bút để tạo ra các hiệu ứng đặc biệt cho nét chữ. Có những chữ cần đậm, có những chữ lại cần nhạt, chữ cần mực đặc, chữ cần mực loãng, đòi hỏi người viết phải có ý tưởng và suy nghĩ sáng tạo hơn.

– Chương pháp:

Chương pháp là cách thức trình bày một tác phẩm thư pháp. Trong văn hóa phương Đông, thư pháp có thể xuất hiện dưới nhiều hình dạng trên các đồ vật khác nhau (như trên tường, tranh vẽ, trên sách, trên quạt,…) nên cách thức bố trí, sắp xếp văn bản cũng từ đó được nghiên cứu và củng cố.

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, dựa vào yêu cầu thể hiện nội dung, văn bản trên các chất liệu khác nhau nên chương pháp trở thành một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một tác phẩm đẹp.

– Nhãn pháp:

Là khi ta viết chữ, mặt phải tập trung nhìn thẳng vào chữ, không được nhìn nghiêng. Nếu viết chữ mà mắt không nhìn thấy nội dung đang viết tức nghĩa là ta đang ngồi sai tư thế, hoặc đăt tay sai vị trí. Trong trường hợp này, phải sửa lại thế tay, thế ngồi tránh tình trạng ngả nghiên, mất cân đối trong lúc thực hiện tác phẩm.

Nhãn pháp còn là cách nói thông thường để chỉ những người có khả năng nhìn nhận con chữ để lâm mô lại hoặc căn ke bố cục trước khi hạ bút.

Không hành bút

Để kết hợp cùng nhãn pháp khi viết chữ người ta sử dụng thêm kỹ thuật không hành bút (tức trước khi hạ bút cho ngọn bút tiếp xúc với mặt giấy, người ta cầm bút viết thử lên phía trên cao của mặt giấy, ước lượng kết cấu của chữ và bố cục của tác phẩm).

sách cổ làm từ giấy dó
Trừu không luyện tự

Bên cạnh đó, trong một số tài liệu mình sưu tầm có nhắc tới một phương pháp khác gọi là “chụp hình”. Tức ta ngồi kiết già hoặc bán già, tập trung tư tưởng nhìn một chữ hồi lâu, rồi nhắm mắt lại.

Trong khi nhắm mắt, ta suy nghĩ về kết cấu và hình ảnh của con chữ. Đồng thời dùng ngón trỏ để vẽ trong không khí chữ đó.

Đây gọi là “Trừu không luyện tự”, một độc chiêu mà vua Đường Thái Tông đã dùng để học bút pháp của Vương Hi Chi.

[1] Phạm Hoàng Quân (2004). Thư pháp chữ Hán – Lý thuyết và thực hành, NXb Mũi Cà Mau.

 

 

 

1
Leave a Reply

avatar
1 Comment threads
0 Thread replies
0 Followers
 
Most reacted comment
Hottest comment thread
1 Comment authors
admin Recent comment authors
  Subscribe  
newest oldest most voted
Notify of